22. Sớ Cúng Quan Thánh I
(Trung Huyền Nhật Nguyệt)
Nguyên văn:
伏以
忠懸日月、常照如在之英靈、氣作山河、永仰無窮之惠澤、一誠上達、寸念遙通。拜疏爲越南國...省...縣[郡]...社...村、本寺奉
佛聖上香献供恭遇關聖帝君菩薩慶誕之辰、祈陰超陽泰事。今弟子...等、惟日拜干
聖德威光、俯垂炤鑒。言念、弟子等生逢盛世、幸獲勝因、久霑
佛聖之恩波、無涯感佩、適値神靈之降誕、倍切競惶、正臨...月之誕辰、仗命六和之淨侶、諷誦...。今則上供疏章和南拜白
南無協天伽藍關聖帝君菩薩勅封忠義神武靈佑仁勇伏魔大帝御前作大証明
筵奉、九天輔元開化靈應張仙大帝、大靈官太乙雷聲王天君、威顯武君靈候關聖太子、馬前威勇公周大將君、仝垂証鑒。伏願、護國護其臣民、默賜崇誠之福祉、在上在其左右、長瞻顯赫之英靈、匡扶弟子以安寧、寔賴神明之加惠。謹疏。
佛曆...歲次...年...月...日時、弟子眾等和南上疏
(疏)奉 白佛金章 弟子眾等和南上疏
Phiên âm:
Phục dĩ:
Trung huyền nhật nguyệt, thường chiếu như tại chi anh linh;1 khí tác sơn hà, vĩnh ngưỡng vô cùng chi huệ trạch;2 nhất thành thượng đạt, thốn niệm diêu thông.
Bái sớ vị: Việt Nam quốc ... Tỉnh … Huyện (Quận) … Xã … Thôn, bổn tự phụng Phật Thánh thượng hương hiến cúng cung ngộ Quan Thánh Đế Quân Bồ Tát khánh đản chi thần,3 kỳ âm siêu dương thái sự. Kim đệ tử … đẳng, duy nhật bái can Thánh đức uy quang, phủ thùy chiếu giám.
Ngôn niệm: Đệ tử đẳng sanh phùng thạnh thế, hạnh hoạch thắng nhân; cửu triêm Phật Thánh chi ân ba, vô nhai cảm bội; thích trị thần linh chi giáng đản, bội thiết cạnh hoàng; chánh lâm … nguyệt chi đản thần, trượng mạng Lục Hòa chi tịnh lữ; phúng kinh ... Kim tắc thượng cúng sớ chương, hòa nam bái bạch:
Nam Mô Hiệp Thiên Già Lam Quan Thánh Đế Quân Bồ Tát Sắc Phong Trung Nghĩa Thần Võ Linh Hựu Nhân Dũng Phục Ma Đại Đế ngự tiền tác đại chứng minh.
Diên phụng: Cửu Thiên Phụ Nguyên Khai Hóa Linh Ứng Trương Tiên Đại Đế,4 Đại Linh Quan Thái Ất Lôi Thanh Vương Thiên Quân,5 Uy Hiển Võ Quân Linh Hầu Quan Thánh Thái Tử,6 Mã Tiền Uy Dũng Công Châu Đại Tướng Quân,7 đồng thùy chứng giám.
Phục nguyện: Hộ quốc hộ kỳ thần dân, mặc tứ sùng thành chi phước chỉ; tại thượng tại kỳ tả hữu, trường chiêm hiển hách chi anh linh; khuôn phò đệ tử dĩ bình an, thật lại thần minh chi gia huệ. Cẩn sớ.
Phật lịch … Tuế thứ … niên … nguyệt … nhật thời.
Đệ tử chúng đẳng hòa nam thượng sớ.
Dịch nghĩa:
Cúi nghĩ:
Trời trăng trung nghĩa, thường chiếu còn đó anh linh; núi sông khí tạo, mãi trông mong vô cùng ân huệ; lòng thành dâng thấu, tấc niệm thông xa.
Nay tại chùa … ở tại Thôn ..., Xã …, Huyện …, Tỉnh …, nước Việt Nam, vâng lời Phật dạy, dâng hương cúng lễ, gặp dịp Khánh Đản Bồ Tát Quan Thánh Đế Quân, nguyện cầu âm siêu dương thái. Đệ tử chúng con …, hôm nay vái lạy, oai quang Thánh đức, xót thương chứng giám.
Nép nghĩ: Đệ tử chúng con, sanh gặp đời thịnh, may được nhân lành; thấm nhuần Phật Thánh bao ơn sâu, vô cùng cảm bội; gặp vào lúc thần linh giáng thế, canh cánh bên lòng; đúng dịp Khánh Đản tháng …, nương sức chúng tăng thanh tịnh, trì tụng …. Nay xin dâng cúng cúng sớ chương, kính thành thưa thỉnh:
Kính xin Bồ Tát Hiệp Thiên Già Lam Quan Thánh Đế Quân, Sắc Phong Trung Nghĩa Thần Võ Linh Hựu Nhân Dũng Phục Ma Đại Đế chứng giám cho.
Cùng xin: Cửu Thiên Phụ Nguyên Khai Hóa Linh Ứng Trương Tiên Đại Đế, Đại Linh Quan Thái Ất Lôi Thanh Vương Thiên Quân, Uy Hiển Võ Quân Linh Hầu Quan Thánh Thái Tử, Công Châu Đại Tướng Quân Uy Dũng trước ngựa, cùng thương chứng giám.
Cúi mong: Giúp nước giúp chúng thần dân, ngầm ban cho phước lợi kính thành; ở trên hai bên phải trái, mãi chiêm ngưỡng hiển hách oai linh; gia hộ đệ tử được bình an, ngưỡng trông thần linh ban ân huệ. Kính dâng sớ.
Ngày ... tháng ... năm ...
Đệ tử chúng con thành kính dâng sớ.
Phần chú thích:
- Anh linh (英靈): linh khí nổi bật, người có linh khí nổi bật ấy, linh hồn của nhân vật xuất chúng; nguyên là âm linh (陰靈), tức là linh hồn của cõi âm. Như trong Chánh Tông Tâm Ấn Hậu Tục Liên Phương (正宗心印後續聯芳, CBETA No. 1617), phần Tăng Quả Diên (僧果延) có câu: “Thiếu Lâm nhất hoa ngũ diệp liên, thiệu chí như kim thị Quả Diên, anh linh hốt tỉnh thừa tư chỉ, bất ly đương xứ kiến Kỳ Viên (少林一花五葉蓮、紹至如今示果延、英靈忽省承斯旨、不離當處見祇園, Thiếu Lâm một hoa năm cánh sen, nối tiếp ngày nay đến Quả Diên, linh hồn chợt tỉnh vâng huyền chỉ, chẳng lìa chỗ ấy thấy Kỳ Viên).” Hay như trong Tông Môn Niêm Cổ Vị Tập (宗門拈古彙集, CBETA No. 1296) quyển 13 cũng có câu: “Siêu quần tu thị anh linh hán, địch thắng hoàn tha sư tử nhi (超群須是英靈漢、敵勝還他獅子兒, siêu quần nên phải anh linh đấng, thắng địch trả về sư tử con).”
- Huệ trạch (惠澤): ân huệ.
- Ngày Khánh Đản của Bồ Tát Quan Thánh Đế Quân là 24 tháng 6 Âm Lịch.
- Trương Tiên (張仙): tức Tống Tử Trương Tiên (送子張仙), Trương Tiên Đại Đế (張仙大帝), vị nam thần của Đạo Giáo, thường bảo vệ các em nhỏ và ban phù hộ cho thai nhi; cũng giống như Tống Tử Nương Nương (送子娘娘) hay Quỷ Tử Mẫu Thần (鬼子母神). Về truyền thuyết của vị thần nầy, có nhiều thuyết khác nhau. Như tác phẩm Kim Đài Kỷ Văn (金台紀聞) của Lục Thâm (陸深, 1477-1544) nhà Minh cho rằng Trương Tiên là Mạnh Sưởng (孟昶, trị vì 934-965), quân vương của Hậu Thục (後蜀, 934-965). Vợ của Mạnh Sưởng là Hoa Nhị Phu Nhân (花蕊夫人) bị bắt vào cung nhà Tống, thường tưởng nhớ đến vua xưa, may mắn mang theo được tấm hình vẽ Mạnh Sưởng cầm cung, đem treo trên tường để nhìn ngắm. Vua Thái Tổ tình cờ thấy được, định hạch tội; Hoa Nhị Phu Nhân lanh trí trả lời rằng đây là Thần Trương Tiên của nhà Thục, nếu thờ phụng thì có thể sanh quý tử. Bên cạnh đó, theo thuyết của Tục Văn Hiến Thông Khảo (續文獻通考) do Vương Kỳ (王圻, 1530-1615) nhà Minh soạn, lại cho rằng Trương Tiên là tiên nhân Trương Viễn Tiêu (張遠霄). Ông người Mi Sơn (眉山), một hôm nọ nhân lên ngao du Thanh Thành Sơn (青城山), tình cờ gặp một lão già cầm cây cung tre, ba viên đạn sắt, muốn mua mấy viên đạn ấy; ông lão trả lời rằng: “Đạn của ta có thể làm cho tiêu trừ dịch bệnh, phải trân quý mà dùng nó.” Khi nhìn kỹ thì thấy mắt ông ấy có hai tròng. Vài năm sau, Trương Viễn Tiêu đi qua Bạch Hạc Sơn (白鶴山), trên núi có tượng bằng đá; khi ấy lại có một lão già bảo rằng: “Tượng nầy là lão già bốn mắt, là thầy của ông, bộ ông không nhớ cây cung tre và mấy viên đạn sắt sao ?” Ông Trương chợt tỉnh ngộ, lấy việc đó để tu thân. Ông thường hay lui tới Hiệp Tiên Lâu (挾仙樓), dùng mấy viên đạn để cứu tai nạn cho người, vô cùng linh nghiệm. Từ đó, mọi người thường gọi ông là Trương Tiên (ông tiên họ Trương), hay Trương Tứ Lang (張四郎) và kính phục như thần. Về sau, dân gian vẽ hình tượng ông, đem treo để thờ, và ai cũng tin rằng ông có thể trừ tà, giúp sanh con. Cứ hằng năm vào ngày 23 tháng 11 Âm Lịch, người ta long trọng tổ chức ngày Thánh Đản của vị thần nầy. Trương Tiên được xem như là vị thần phụ thuộc, hộ vệ cho Quan Thánh Đế Quân (關聖帝君). Như trong Đào Viên Minh Thánh Kinh (桃園明聖經) của Đạo Giáo có giải thích rằng: “Ngô nãi Tử Vi Cung lí Chu Y Thần, hiệp quản Văn Xương Võ Khúc Tinh, kỳ nhân Trương Tiên vô chủ hạt, sắc lịnh tùy ngô vi tùng thần (吾乃紫微宮裡朱衣神、協管文昌武曲星、祇因張仙無主轄、敕令隨吾爲從神, ta [Quan Thánh Đế Quân] là Chu Y Thần của Tử Vi Cung, cùng quản chưởng Sao Văn Xương Võ Khúc, nhân Trương Tiên có chủ quản hạt, sắc lịnh làm thần theo ta).” Cũng trong kinh nầy có đoạn xưng tán Trương Tiên như sau: “Chí tâm quy mạng lễ: Quế Hương thượng điện, Văn Xương Tả Cung, thất thập nhị hóa chi Pháp Thân, bách thiên vạn kiếp chi vận số, dục từ thiên hạ, diễn giáo nhân gian, kim đạn trúc cung tùy thân đới, Cô Thần Quả Tú diệt hành tung, phù tiểu tử nhi vệ thông quan, ấm khuê phòng nhi hộ nan sản, thông minh nhật ích, đậu chẩn giảm tiêu, nan dũ giả kỳ chi tiện dũ, nan thuyên giả đảo chi tất thuyên, đại bi đại nguyện, đại thánh đại từ, Cửu Thiên Phụ Nguyên Khai Hóa, Linh Ứng Trương Tiên Đại Đế, Thất Khúc Dục Thánh Thiên Tôn (志心皈命禮、桂香上殿、文昌左宮、七十二化之法身、百千萬劫之運數、育嗣天下、演敎人間、金彈竹弓隨身帶、孤辰寡宿滅行蹤、扶小子而衛通關、蔭閨房而護難產、聰明日益、痘疹減消、難癒者祈之便癒、難痊者禱之必痊、大悲大願、大聖大慈、九天輔元開化、靈應張仙大帝、七曲毓聖天尊, Một lòng quy mạng lễ: Quế Hương trên điện, Văn Xương Tả Cung, hai mươi bảy hóa hiện Pháp Thân, trăm ngàn vạn kiếp ấy vận số, nuôi nấng thiên hạ, dạy dỗ nhân gian, đạn vàng cung tre mang bên thân, Cô Thần Quả Tú diệt hành tung, phò hộ tiểu tử qua cửa nạn, ngầm trợ khuê phòng hộ người khó sinh, thông minh lợi ích, đậu sởi giảm tiêu, khó bớt cầu ngài liền bớt, khó lành xin ngài tất lành, đại bi đại nguyện, đại thánh đại từ, Cửu Thiên Phụ Nguyên Khai Hóa, Linh Ứng Trương Tiên Đại Đế, Thất Khúc Thánh Nuôi Con Thiên Tôn).”
- Vương Thiên Quân (王天君): còn gọi là Vương Linh Quan (王靈官), Giáng Tư Chơn Quân (隆思眞君), Hoát Lạc Linh Quan (豁落靈官), Linh Quan Vương Thiên Quân (靈官王天君); tôn xưng là Thái Ất Lôi Thanh Ứng Hóa Thiên Tôn (太乙雷聲應化天尊), được phong là Ngọc Xu Hỏa Phủ Thiên Tướng (玉樞火府天將). Ông là một trong 36 vị Thiên Tướng được Ngọc Đế sắc phong, quản chưởng việc giám sát trên trời, chém yêu hộ pháp, cho nên các Đạo Quán của Đạo Giáo tôn thờ vị nầy là thần trấn hộ sơn môn; Phật Giáo tôn sùng là Thủ Hộ Thần. Liệt Tiên Toàn Truyện (列仙全傳) cho biết rằng Vương Linh Quan tên Vương Thiện (王善), dưới thời nhà Tống là thần Thổ Địa ở miếu thờ Thổ Địa tại Tương Âm (湘陰), Hồ Nam (湖南), sau bị Tát Thủ Kiên Chân Nhân (薩守堅眞人) thu phục rồi thọ pháp với vị nầy, kế đến truyền pháp cho Đạo Sĩ ở Hàng Châu (杭州) là Chu Ân Đức (周恩德). Trong thời gian niên hiệu Vĩnh Lạc (永樂, 1402-1424) của Minh Thành Tổ (成祖), Chu Ân Đức phụng chiếu vào kinh đô, hành pháp Linh Quan (靈官), biết trước việc phước họa; vua Thành Tổ Chu Lệ (成祖朱棣) mấy lần trắc nghiệm, quả không sai chút nào. Nhà vua rất vui mừng, nhân đó hạ chiếu chỉ cho dựng Thiên Tướng Miếu (天將廟) và Tổ Sư Điện (祖師殿) ở phía tây Cấm Thành để thờ Tát Chân Nhân cũng như Vương Linh Quan. Mỗi năm bốn mùa đều thay đổi bào phục cho hai vị, cứ 3 năm đem đốt một lần, rồi lại thay áo mới; dâng cúng châu ngọc gấm vóc, chẳng tiếc chút phí tổn. Hằng năm vào dịp lễ Thánh Tiết Vạn Thọ Hoàng Đế, Nguyên Đán, Đông Chí, nhà vua đều sai quan đến tế lễ; cho đến trong khoảng niên hiệu Gia Tĩnh (嘉靖, 1521-1566) đời vua Thế Tông (世宗) mới bắt đầu phế bỏ việc tế lễ và không đốt bào phục.
- Tức Quan Bình Thái Tử (關平太子): xem chú thích bên trên.
Tức Châu Thương Tướng Quân (周倉將軍): xem chú thích bên trên.